Nhiều ngành học từng phổ biến tại Trung Quốc đang chứng kiến sự suy giảm mạnh về quy mô tuyển sinh khi các trường đại học đồng loạt cắt giảm hoặc dừng đào tạo do triển vọng việc làm kém.
Đáng chú ý, tám ngành học đang ghi nhận mức sụt giảm tuyển sinh mạnh gồm Quản lý thông tin và hệ thống thông tin, Hành chính công, Thiết kế thời trang và may mặc, Khoa học thông tin và máy tính, Công nghệ giáo dục, Thương mại điện tử, Kỹ thuật sinh học và Thiết kế môi trường.
Nguyên nhân chung là tỷ lệ việc làm của sinh viên tốt nghiệp các ngành này ở mức thấp. Theo các thống kê được dẫn lại trong báo cáo, tỷ lệ có việc làm của hầu hết các ngành đều dưới 70%, thậm chí một số ngành chỉ quanh mức 50% đến 60%.
Với nhóm ngành Quản lý thông tin và hệ thống thông tin cùng Khoa học thông tin và máy tính, vấn đề nằm ở chương trình đào tạo thiếu định hướng rõ ràng, khiến sinh viên ra trường khó cạnh tranh với các chuyên ngành công nghệ có tính chuyên sâu hơn.
Các ngành Thiết kế thời trang và may mặc, Thiết kế môi trường chịu tác động trực tiếp từ sự suy giảm của các lĩnh vực may mặc, nội thất và trang trí truyền thống. Khi doanh nghiệp trong ngành cắt giảm nhu cầu tuyển dụng, cơ hội việc làm của sinh viên cũng thu hẹp theo.
Trong khi đó, Hành chính công và Công nghệ giáo dục phụ thuộc chủ yếu vào nhu cầu tuyển dụng của khu vực công. Tuy nhiên, quá trình tinh giản biên chế và hạn chế mở rộng nhân sự tại nhiều địa phương khiến số lượng vị trí việc làm giảm đáng kể, dẫn tới tình trạng cung vượt cầu.
Ngành Thương mại điện tử cũng không còn giữ được sức hút như trước. Sự phát triển của mô hình bán hàng qua livestream và việc gia nhập lĩnh vực thương mại điện tử ngày càng dễ dàng khiến nhiều doanh nghiệp không còn ưu tiên tuyển dụng nhân sự được đào tạo chuyên ngành này.
Riêng Kỹ thuật sinh học vẫn đối mặt với bài toán quen thuộc là thị trường công nghệ sinh học phát triển chưa đủ mạnh để hấp thụ lượng lớn sinh viên tốt nghiệp. Đây là một trong những ngành có tỷ lệ việc làm thấp trong nhiều năm liên tiếp.
Xu hướng trên đã khiến ngay cả những trường đại học hàng đầu Trung Quốc cũng phải đóng hoặc thu hẹp các chương trình đào tạo liên quan. Điều này cho thấy việc lựa chọn ngành học ngày càng gắn chặt với nhu cầu thực tế của thị trường lao động thay vì chỉ dựa trên danh tiếng của trường hay độ phổ biến của ngành trong quá khứ.
Trong giai đoạn 2021 đến 2025, Trung Quốc đẩy mạnh tái cơ cấu hệ thống giáo dục đại học nhằm đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế và thị trường lao động. Hàng nghìn chương trình đào tạo đã bị hủy bỏ, trong đó các ngành kỹ thuật và quản lý chiếm tỷ lệ lớn nhất.
- Quản lý thông tin và hệ thống thông tin (Information Management and Information Systems)
- Hành chính công (Public Administration)
- Thiết kế thời trang và may mặc (Fashion and Apparel Design)
- Khoa học thông tin và máy tính (Information and Computing Science)
- Công nghệ giáo dục (Educational Technology)
- Thương mại điện tử (E-commerce)
- Kỹ thuật sinh học (Bioengineering/Biotechnology Engineering)
- Thiết kế môi trường (Environmental Design)
Đáng chú ý, tám ngành học đang ghi nhận mức sụt giảm tuyển sinh mạnh gồm Quản lý thông tin và hệ thống thông tin, Hành chính công, Thiết kế thời trang và may mặc, Khoa học thông tin và máy tính, Công nghệ giáo dục, Thương mại điện tử, Kỹ thuật sinh học và Thiết kế môi trường.
Nguyên nhân chung là tỷ lệ việc làm của sinh viên tốt nghiệp các ngành này ở mức thấp. Theo các thống kê được dẫn lại trong báo cáo, tỷ lệ có việc làm của hầu hết các ngành đều dưới 70%, thậm chí một số ngành chỉ quanh mức 50% đến 60%.
Với nhóm ngành Quản lý thông tin và hệ thống thông tin cùng Khoa học thông tin và máy tính, vấn đề nằm ở chương trình đào tạo thiếu định hướng rõ ràng, khiến sinh viên ra trường khó cạnh tranh với các chuyên ngành công nghệ có tính chuyên sâu hơn.
Các ngành Thiết kế thời trang và may mặc, Thiết kế môi trường chịu tác động trực tiếp từ sự suy giảm của các lĩnh vực may mặc, nội thất và trang trí truyền thống. Khi doanh nghiệp trong ngành cắt giảm nhu cầu tuyển dụng, cơ hội việc làm của sinh viên cũng thu hẹp theo.
Trong khi đó, Hành chính công và Công nghệ giáo dục phụ thuộc chủ yếu vào nhu cầu tuyển dụng của khu vực công. Tuy nhiên, quá trình tinh giản biên chế và hạn chế mở rộng nhân sự tại nhiều địa phương khiến số lượng vị trí việc làm giảm đáng kể, dẫn tới tình trạng cung vượt cầu.
Ngành Thương mại điện tử cũng không còn giữ được sức hút như trước. Sự phát triển của mô hình bán hàng qua livestream và việc gia nhập lĩnh vực thương mại điện tử ngày càng dễ dàng khiến nhiều doanh nghiệp không còn ưu tiên tuyển dụng nhân sự được đào tạo chuyên ngành này.
Riêng Kỹ thuật sinh học vẫn đối mặt với bài toán quen thuộc là thị trường công nghệ sinh học phát triển chưa đủ mạnh để hấp thụ lượng lớn sinh viên tốt nghiệp. Đây là một trong những ngành có tỷ lệ việc làm thấp trong nhiều năm liên tiếp.
Xu hướng trên đã khiến ngay cả những trường đại học hàng đầu Trung Quốc cũng phải đóng hoặc thu hẹp các chương trình đào tạo liên quan. Điều này cho thấy việc lựa chọn ngành học ngày càng gắn chặt với nhu cầu thực tế của thị trường lao động thay vì chỉ dựa trên danh tiếng của trường hay độ phổ biến của ngành trong quá khứ.