20 tỷ đô nhập siêu : Việt Nam tiếp bước các con Rồng châu Á ?

Thăng Long Official
Thăng Long Official
Phản hồi: 0
NHẬP SIÊU 8 THÁNG: KHÔNG HẲN LÀ DẤU HIỆU YẾU, MÀ CÓ THỂ LÀ NHỊP ĐẬP CỦA MỘT NỀN KINH TẾ ĐANG VƯƠN MÌNH

Tám tháng đầu năm 2026, Việt Nam nhập siêu 20,46 tỷ USD, đảo chiều mạnh so với mức xuất siêu 14,02 tỷ USD cùng kỳ năm trước. Thoạt nhìn, đây là con số đáng lo. Nhưng khi bóc tách cơ cấu hàng hóa, bức tranh lại mang màu sắc tích cực hơn.

Điểm quan trọng nhất là 94,1% kim ngạch nhập khẩu thuộc nhóm tư liệu sản xuất. Trong đó, máy móc, thiết bị, linh kiện và phụ tùng chiếm 57,6%; nguyên, nhiên, vật liệu chiếm 36,5%. Riêng máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện đạt 161,6 tỷ USD, tăng 68,3%.

Điều này cho thấy phần lớn ngoại tệ đang được dùng để mua đầu vào cho sản xuất, xây dựng nhà máy, mở rộng công suất và phát triển các ngành công nghiệp mới, thay vì chủ yếu nhập hàng tiêu dùng cuối cùng. Có thể gọi đây là “nhập siêu sản xuất” – một hiện tượng thường xuất hiện trong giai đoạn nền kinh tế tăng tốc đầu tư.

Lịch sử thế giới từng ghi nhận nhiều trường hợp tương tự.

Từ năm 1800 đến 1870, Hoa Kỳ nhập siêu trong 67/70 năm. Khi đó, Mỹ phải nhập máy móc và hàng công nghiệp từ Anh, châu Âu để xây dựng năng lực sản xuất trong nước. Sau khi nền công nghiệp trưởng thành, Mỹ chuyển sang thặng dư thương mại trong phần lớn giai đoạn 1870–1970.

Nhật Bản Thâm hụt thương mại năm 1953 lên tới 794 triệu USD, nhưng phần lớn nguồn lực được dành cho máy móc, công nghệ và nguyên liệu từ Mỹ. Khi năng suất và năng lực xuất khẩu được cải thiện, cán cân thương mại dần chuyển sang thặng dư.

Singapore duy trì thâm hụt tài khoản vãng lai trong phần lớn giai đoạn 1965–1985. Đây không đơn thuần là sự mất cân đối, mà phản ánh nhu cầu đầu tư rất lớn của một nền kinh tế đang công nghiệp hóa. Dòng vốn FDI dài hạn được sử dụng để nhập thiết bị, hàng hóa trung gian, xây dựng cảng biển, nhà máy và các ngành công nghiệp xuất khẩu. Đến cuối thập niên 1980, Singapore chuyển sang thặng dư bền vững.

Hàn Quốc là ví dụ gần Việt Nam nhất. Trong giai đoạn xây dựng ngành thép, hóa chất, đóng tàu, ô tô và điện tử, nước này nhập siêu liên tục từ năm 1962 đến 1985. Riêng giai đoạn 1974–1980, nguyên liệu trung gian và nhiên liệu chiếm hơn 62% tổng nhập khẩu. Đến năm 1986, khi năng lực công nghiệp bắt đầu phát huy hiệu quả, Hàn Quốc chuyển sang xuất siêu.

Tất nhiên, không phải mọi loại nhập siêu đều tốt. Nhập siêu chỉ mang ý nghĩa tích cực khi dòng tiền được chuyển hóa thành máy móc, công nghệ, nhà máy, năng suất và kim ngạch xuất khẩu trong tương lai. Ngược lại, nếu nhập khẩu chủ yếu phục vụ tiêu dùng, đầu cơ hoặc được tài trợ bằng vốn vay ngắn hạn, rủi ro tỷ giá và nợ nước ngoài sẽ gia tăng.

Với GDP sáu tháng tăng 8,18%, IIP tám tháng tăng 11,9% và 94,1% nhập khẩu là tư liệu sản xuất, Việt Nam đang cho thấy nhiều dấu hiệu của một chu kỳ mở rộng công suất.

Quan điểm của tôi rất rõ: đừng chỉ sợ nhập siêu; hãy sợ nhập siêu mà không tạo ra năng lực sản xuất. Nếu tiếp tục phát triển công nghiệp hỗ trợ, nâng tỷ lệ nội địa hóa và tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị, lượng máy móc và nguyên liệu nhập khẩu hôm nay có thể trở thành nền tảng cho vị thế xuất khẩu cao hơn của Việt Nam trong 10–20 năm tới.
JP.pngnst9-20260921075614377.png

e7d13bb8-f090-474b-8325-8ce7fdd22376_1707x1097.png
 
Back
Top