Theo ông Nguyễn Tử Quảng, Chủ tịch kiêm CEO Tập đoàn công nghệ Bkav, doanh nghiệp công nghệ Việt hiện không thiếu năng lực nghiên cứu hay làm chủ công nghệ. Điều còn thiếu là cơ chế tài chính, hành lang pháp lý và thị trường đủ thông thoáng để sản phẩm công nghệ trong nước có thể phát triển và cạnh tranh. Tại hội thảo góp ý hoàn thiện cơ chế tài chính cho phát triển công nghệ chiến lược quốc gia do Quỹ Phát triển khoa học và công nghệ Quốc gia (NAFOSTED) tổ chức, ông đã đưa ra 10 kiến nghị nhằm tháo gỡ những rào cản lớn nhất hiện nay.
Kiến nghị đầu tiên là thực hiện cơ chế khoán chi thực chất. Theo ông, nếu Nhà nước đã khoán kinh phí theo sản phẩm thì không nên yêu cầu doanh nghiệp quyết toán từng khoản chi tiết như hiện nay. Việc này khiến doanh nghiệp mất động lực tối ưu chi phí và quay lại cơ chế "thực thanh thực chi".
Thứ hai, việc nghiệm thu dự án nên dựa trên kết quả thực tế thay vì hồ sơ giấy. Các sản phẩm cần được kiểm chứng bằng thử nghiệm hoặc đánh giá trong môi trường sandbox để bảo đảm ngân sách chỉ được chi cho những công nghệ thực sự hiệu quả.
Thứ ba, với các nhiệm vụ công nghệ trọng điểm quốc gia, Nhà nước nên hỗ trợ tới 100% kinh phí để doanh nghiệp yên tâm đầu tư nghiên cứu, thay vì áp dụng nhiều mức hỗ trợ khác nhau.
Thứ tư, cần xây dựng cơ chế định giá tài sản công nghệ như bằng sáng chế, phần mềm hay bí quyết kỹ thuật để doanh nghiệp có thể dùng làm tài sản bảo đảm khi vay vốn ngân hàng. Theo ông, đây là điểm nghẽn lớn khiến nhiều doanh nghiệp công nghệ khó tiếp cận nguồn vốn.
Kiến nghị thứ năm là ban hành danh sách các hành vi vi phạm cụ thể để bảo vệ cán bộ quản lý và hội đồng thẩm định. Chỉ khi có hành vi như tham nhũng, gian lận hay cố ý làm sai mới bị xử lý, thay vì để cán bộ luôn lo ngại trách nhiệm vì các sai sót thủ tục.
Thứ sáu, ông đề xuất chuyển từ mô hình "Hội đồng tư vấn" sang "Hội đồng quyết định". Khi đó, quyết định của hội đồng sẽ là căn cứ pháp lý để lãnh đạo phê duyệt, giúp giảm tâm lý e ngại khi ký các dự án đổi mới sáng tạo.
Thứ bảy, doanh nghiệp nên được nghiên cứu song song cùng một hướng công nghệ mà không bắt buộc phải khác biệt hoàn toàn. Theo ông, càng nhiều doanh nghiệp trong nước cùng phát triển một sản phẩm thì càng tạo ra cạnh tranh, nâng cao chất lượng và hình thành hệ sinh thái công nghệ.
Thứ tám, ông đề nghị bỏ quy định doanh thu từ sản phẩm công nghệ chiến lược phải chiếm tối thiểu 80% tổng doanh thu doanh nghiệp. Quy định này gây khó cho cả tập đoàn lớn lẫn startup, vì doanh nghiệp thường phải duy trì nhiều nguồn thu để có kinh phí đầu tư nghiên cứu.
Thứ chín là thay đổi cách tính tỷ lệ nội địa hóa. Ông cho rằng phương pháp hiện nay chưa phản ánh đúng giá trị do công nghệ và chất xám tạo ra. Thay vào đó, nên tính theo phương pháp trừ giá trị linh kiện nhập khẩu để ghi nhận đầy đủ phần giá trị được tạo ra trong nước.
Cuối cùng, ông đề xuất quy trình hai bước để tạo thị trường cho sản phẩm công nghệ Việt. Trước hết, doanh nghiệp sẽ triển khai thử nghiệm sản phẩm tại địa phương để chứng minh năng lực. Sau khi đạt yêu cầu, địa phương mới tổ chức đấu thầu công khai với tiêu chí minh bạch và cạnh tranh bình đẳng. Theo ông, cách làm này vừa giúp địa phương giảm rủi ro khi lựa chọn công nghệ mới, vừa tạo cơ hội để sản phẩm Việt cạnh tranh với các đối thủ nước ngoài.
Ông cho rằng nếu những rào cản về cơ chế tài chính, vốn và thị trường được tháo gỡ, doanh nghiệp Việt hoàn toàn có thể phát triển các công nghệ chiến lược, giảm phụ thuộc vào nhập khẩu và nâng cao năng lực cạnh tranh trên thị trường quốc tế.
Chi tiết đọc tại link dưới:
Kiến nghị đầu tiên là thực hiện cơ chế khoán chi thực chất. Theo ông, nếu Nhà nước đã khoán kinh phí theo sản phẩm thì không nên yêu cầu doanh nghiệp quyết toán từng khoản chi tiết như hiện nay. Việc này khiến doanh nghiệp mất động lực tối ưu chi phí và quay lại cơ chế "thực thanh thực chi".
Thứ hai, việc nghiệm thu dự án nên dựa trên kết quả thực tế thay vì hồ sơ giấy. Các sản phẩm cần được kiểm chứng bằng thử nghiệm hoặc đánh giá trong môi trường sandbox để bảo đảm ngân sách chỉ được chi cho những công nghệ thực sự hiệu quả.
Thứ ba, với các nhiệm vụ công nghệ trọng điểm quốc gia, Nhà nước nên hỗ trợ tới 100% kinh phí để doanh nghiệp yên tâm đầu tư nghiên cứu, thay vì áp dụng nhiều mức hỗ trợ khác nhau.
Thứ tư, cần xây dựng cơ chế định giá tài sản công nghệ như bằng sáng chế, phần mềm hay bí quyết kỹ thuật để doanh nghiệp có thể dùng làm tài sản bảo đảm khi vay vốn ngân hàng. Theo ông, đây là điểm nghẽn lớn khiến nhiều doanh nghiệp công nghệ khó tiếp cận nguồn vốn.
Kiến nghị thứ năm là ban hành danh sách các hành vi vi phạm cụ thể để bảo vệ cán bộ quản lý và hội đồng thẩm định. Chỉ khi có hành vi như tham nhũng, gian lận hay cố ý làm sai mới bị xử lý, thay vì để cán bộ luôn lo ngại trách nhiệm vì các sai sót thủ tục.
Thứ sáu, ông đề xuất chuyển từ mô hình "Hội đồng tư vấn" sang "Hội đồng quyết định". Khi đó, quyết định của hội đồng sẽ là căn cứ pháp lý để lãnh đạo phê duyệt, giúp giảm tâm lý e ngại khi ký các dự án đổi mới sáng tạo.
Thứ bảy, doanh nghiệp nên được nghiên cứu song song cùng một hướng công nghệ mà không bắt buộc phải khác biệt hoàn toàn. Theo ông, càng nhiều doanh nghiệp trong nước cùng phát triển một sản phẩm thì càng tạo ra cạnh tranh, nâng cao chất lượng và hình thành hệ sinh thái công nghệ.
Thứ tám, ông đề nghị bỏ quy định doanh thu từ sản phẩm công nghệ chiến lược phải chiếm tối thiểu 80% tổng doanh thu doanh nghiệp. Quy định này gây khó cho cả tập đoàn lớn lẫn startup, vì doanh nghiệp thường phải duy trì nhiều nguồn thu để có kinh phí đầu tư nghiên cứu.
Thứ chín là thay đổi cách tính tỷ lệ nội địa hóa. Ông cho rằng phương pháp hiện nay chưa phản ánh đúng giá trị do công nghệ và chất xám tạo ra. Thay vào đó, nên tính theo phương pháp trừ giá trị linh kiện nhập khẩu để ghi nhận đầy đủ phần giá trị được tạo ra trong nước.
Cuối cùng, ông đề xuất quy trình hai bước để tạo thị trường cho sản phẩm công nghệ Việt. Trước hết, doanh nghiệp sẽ triển khai thử nghiệm sản phẩm tại địa phương để chứng minh năng lực. Sau khi đạt yêu cầu, địa phương mới tổ chức đấu thầu công khai với tiêu chí minh bạch và cạnh tranh bình đẳng. Theo ông, cách làm này vừa giúp địa phương giảm rủi ro khi lựa chọn công nghệ mới, vừa tạo cơ hội để sản phẩm Việt cạnh tranh với các đối thủ nước ngoài.
Ông cho rằng nếu những rào cản về cơ chế tài chính, vốn và thị trường được tháo gỡ, doanh nghiệp Việt hoàn toàn có thể phát triển các công nghệ chiến lược, giảm phụ thuộc vào nhập khẩu và nâng cao năng lực cạnh tranh trên thị trường quốc tế.
Chi tiết đọc tại link dưới:
CEO Nguyễn Tử Quảng hiến kế 10 giải pháp then chốt khơi thông nguồn vốn và kiến tạo thị trường cho công nghệ chiến lược quốc gia - Bkav Corporation
Ngày 09/07/2026, tại Hà Nội, Quỹ Phát triển khoa học và công nghệ Quốc gia (NAFOSTED) thuộc Bộ Khoa học và Công nghệ đã tổ chức Hội thảo khoa học:...
www.bkav.com