Tướng quân vô danh khiến Gia Cát Lượng trở về trắng tay sau hai lần dẫn đại quân Bắc phạt

N
Nguyễn Văn Sơn
Phản hồi: 0
Trong lịch sử Tam Quốc diễn nghĩa, ít có cảnh tượng nào trớ trêu và đáng suy ngẫm hơn cảnh đại quân Thục Hán do Gia Cát Lượng thống lĩnh, hùng hổ kéo ra Bắc phạt lần thứ hai, rồi phải dừng chân bất lực trước một tòa thành chỉ có hơn nghìn quân trấn giữ. Vì sao nên nỗi?

Bối cảnh sau lần Bắc phạt thứ nhất
1776487035925.png

Cuộc Bắc phạt lần thứ nhất của Gia Cát Lượng kết thúc không như kỳ vọng, song tổn thất không đến mức bi thảm. So với thảm bại của Lưu Bị tại Di Lăng năm xưa, khi Lục Tốn phóng lửa thiêu trại khiến các tướng Thục như Trương Nam, Phùng Tập, Phó Dung lần lượt tử trận, thì lần Bắc phạt đầu tiên này rút lui còn tương đối trật tự. Quốc lực Thục Hán vì thế chưa đến mức kiệt quệ, toàn triều vẫn còn nhuệ khí, và Gia Cát Lượng sau khi dâng biểu tự nhận trách nhiệm, tiếp tục chỉnh đốn binh mã, chờ thời cơ.

Thời cơ đó đến vào tháng 9 năm 228. Tào Ngụy sau khi đẩy lui quân Thục, liền quay sang dùng thế thắng đánh Đông Ngô theo hai hướng, một cánh do Tư Mã Ý chỉ huy, một cánh do Tào Hưu dẫn đầu. Chu Phường, thái thú Bà Dương của Ngô, dùng kế giả hàng để lừa Tào Hưu, khiến mười vạn quân Ngụy lọt bẫy, đại bại tại Hoài Nam. Trọng tâm chiến lược của Ngụy lập tức dịch chuyển về phía đông, Quan Trung bỗng trở nên trống rỗng.

Gia Cát Lượng nhận ra ngay thời cơ. Trong "Hậu xuất sư biểu", ông viết rằng kẻ thù đang mệt mỏi ở phía tây, lại bận bịu ở phía đông, đây chính là lúc dụng binh. Tháng 12 năm đó, ông phát động Bắc phạt lần hai, theo đường cũ tiến vào Đại Tán Quan.

Địa thế hiểm yếu và tòa thành nan phá

Đại Tán Quan, nằm ở vùng Bảo Kê tỉnh Thiểm Tây ngày nay, là yết hầu nối liền Quan Trung với Hán Trung và Ba Thục. Đèo cao khoảng 1.200 mét, vách đá dựng đứng hai bên, được ví như "một dải trời xanh". Tào Tháo năm xưa từng vượt đèo này để bình định Trương Lỗ, và không khỏi thốt lên trong thơ rằng con đường Tam Quan sáng sớm gian nan biết bao.

Từ Đại Tán Quan tiến về phía bắc vào Quan Trung, đô thị lớn gần nhất chính là Trần Thương. Đây là vùng đất có truyền thống quân sự lâu đời, ngay từ thời Hán Tín dùng kế "minh tu sạn đạo, ám độ Trần Thương" mà lấy lại Quan Trung. Thành Trần Thương hào sâu tường cao, hươu vật xếp đầy, vốn là pháo đài thiên nhiên.

Tào Ngụy giao việc trấn thủ Trần Thương cho tướng Hách Chiêu. Ông này tự Bá Đạo, thân cao chín thước, bắn cung tựa vượn, mưu lược lão luyện, từng trấn giữ Hà Tây hơn mười năm khiến cả dân lẫn rợ đều kính nể. Dưới tay ông chỉ có hơn nghìn quân chính quy cùng khoảng ba nghìn phu dịch. Ngoài thành, tướng Phí Diêu, người tâm phúc của Tào Chân, cũng lập trại kiên cố ở phía đông, đào hào đắp lũy, phối hợp phòng thủ.

Quân Thục tấn công bằng đủ cách. Bắc thang công thành thì bị quân Ngụy phóng hỏa thiêu rụi, người trên thang không kịp xuống. Dùng xe chướng ngại vật thì bị đánh bằng đá cối, xe gãy nát. Dựng hàng rào gỗ cao trăm thước, bắn tên vào thành, lấp đất lấp hào định leo trực tiếp lên tháp, thì bên trong quân Ngụy lập tức dựng thêm tường thứ hai. Quân Thục bèn đào địa đạo luồn vào, quân Ngụy lại đào chiến hào ngầm bên trong để chặn. Hơn hai mươi ngày công phá, Trần Thương vẫn đứng vững.

Trong lúc đó, Tào Tuệ triệu gấp Trương Cáp từ Kinh Châu về, cấp cho ba vạn quân, lệnh tiến nhanh về Quan Trung giải vây Trần Thương. Trương Cáp vốn đã từng phá Ma Tốc ở Nhai Đình, tự tin tuyên bố rằng Gia Cát Lượng tiến sâu vào đất địch, lương thảo không thể cầm cự quá mười ngày. Lời đó không sai. Nghe tin Trương Cáp kéo đến, Gia Cát Lượng lập tức hạ lệnh lui binh.

Kết cục và bài học

Sau trận, Hách Chiêu được phong tước hầu vì công giữ thành, được triệu về Lạc Dương, Tào Tuệ đích thân đến ủi lạo và hứa trọng dụng. Nhưng ông không bao giờ có cơ hội ấy, bởi không lâu sau thì qua đời vì bệnh.

Còn Vương Song, phó tướng của Hách Chiêu, thân cao chín thước, mặt đen mắt vàng, kiếm nặng sáu mươi cân, cưỡi ngựa Đại Uyển ngàn dặm, không cam lòng để Gia Cát Lượng rút đi yên ổn, bèn đem kỵ binh truy kích. Nhưng đường núi Tần Lĩnh hiểm trở chật hẹp, dũng mãnh mấy cũng không qua được phục binh. Vương Song chết tại đây, trở thành chiến lợi phẩm duy nhất mà cuộc Bắc phạt lần hai mang về cho Thục Hán.

Sau này Trương Cáp cũng đuổi theo Gia Cát Lượng trong một lần khác và chết trong phục kích. Bình mà xét, tài cầm quân của Gia Cát Lượng trong các cuộc Bắc phạt, dù không đạt mục tiêu chiến lược, song đi sau không để bị tập kích, thì trong Tam Quốc ít ai sánh được.

Trần Thương không thất thủ không phải vì quân Thục kém cỏi. Đó là bài toán của địa thế, thời gian và hậu cần. Khi lương thảo có hạn, đường tiếp viện của địch lại vô hạn, thì dù tướng tài đến đâu, vạn quân cũng khó bẻ gãy một pháo đài được người gan dạ và mưu lược trấn giữ. Đây là bài học mà không chỉ Tam Quốc, mà mọi thời đại đều phải nhớ: ý chí và mưu lược đôi khi còn đáng giá hơn quân số.
 


Đăng nhập một lần thảo luận tẹt ga
Thành viên mới đăng
http://textlink.linktop.vn/?adslk=aHR0cHM6Ly93d3cudm5yZXZpZXcudm4vdGhyZWFkcy90dW9uZy1xdWFuLXZvLWRhbmgta2hpZW4tZ2lhLWNhdC1sdW9uZy10cm8tdmUtdHJhbmctdGF5LXNhdS1oYWktbGFuLWRhbi1kYWktcXVhbi1iYWMtcGhhdC44MTk1MS8=
Top