Các nhà mạng lớn đồng loạt tăng giá cước Internet cáp quang tối thiểu lên gần 200.000 đồng

Khôi Nguyên
Khôi Nguyên
Phản hồi: 0
Một động thái hiếm hoi trên thị trường viễn thông cố định Việt Nam vừa diễn ra khi ba nhà cung cấp dịch vụ lớn nhất đồng loạt điều chỉnh tăng giá cước cho gói Internet cáp quang (FTTH) thấp nhất. Theo đó, cước phí khởi điểm hàng tháng đối với khách hàng đăng ký mới sẽ được nâng lên ngưỡng xấp xỉ 200.000 đồng, đánh dấu sự chấm dứt của giai đoạn cạnh tranh khốc liệt bằng chiến lược hạ giá sàn kéo dài suốt nhiều năm qua. Mặc dù có sự điều chỉnh tăng, giới chuyên môn và các tổ chức quốc tế vẫn xếp hạng chi phí viễn thông tại Việt Nam nằm trong nhóm những quốc gia có mức cước rẻ nhất thế giới xét trên tỷ quan giữa giá thành và chất lượng tốc độ.

1772762269338.png

Cục diện giá cước mới và các chính sách đi kèm​


Cụ thể, sự thay đổi bảng giá được áp dụng trên phạm vi toàn quốc đối với các hợp đồng đăng ký mới. Tập đoàn Công nghiệp - Viễn thông Quân đội (Viettel) và Công ty Cổ phần Viễn thông FPT (FPT Telecom) đã nâng mức cước tháng cho gói dịch vụ cơ bản nhất lên 195.000 đồng. Trong khi đó, Tập đoàn Bưu chính Viễn thông Việt Nam (VNPT) thiết lập mức sàn là 190.000 đồng/tháng. Trước đợt điều chỉnh này, gói cước thấp nhất của cả ba nhà mạng đều được neo ở mức 180.000 đồng/tháng với tốc độ băng thông tải xuống tiêu chuẩn là 300 Mbps. Đối với các khách hàng hiện hữu đã ký kết hợp đồng trước thời điểm thay đổi, chính sách giá cũ vẫn được bảo lưu.

1772762582510.png

1772762600739.png

1772762719589.png

Giá cước Internet cáp quang của 3 nhà mạng lớn tại Việt Nam lần lượt từ VNPT, FPT đến Viettel

Bên cạnh việc điều chỉnh cước phí cơ bản hàng tháng, các nhà mạng vẫn duy trì các chính sách khuyến khích thanh toán trả trước truyền thống, điển hình như việc tặng thêm một tháng sử dụng cho người dùng thanh toán trước cước phí 12 tháng, đi kèm với việc cung cấp thiết bị modem miễn phí.

Đáng chú ý, khoản phí hòa mạng (phí lắp đặt lần đầu) trị giá 300.000 đồng vẫn được áp dụng bắt buộc. Đối với các khu vực đô thị trọng điểm có chi phí hạ tầng cao như khu vực nội thành Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh, Viettel và VNPT áp dụng biểu giá riêng biệt với mức cước cho gói thấp nhất dao động từ 235.000 đến 255.000 đồng/tháng. Ngoài ra, biểu giá của một số gói cước băng thông cao hơn cũng ghi nhận mức tăng nhẹ vài chục nghìn đồng. Mặc dù đại diện chính thức của các nhà mạng chưa đưa ra bình luận về nguyên nhân cốt lõi của đợt tăng giá này, các nhân sự khối kinh doanh giải thích rằng đây là sự điều chỉnh linh hoạt dựa trên chiến lược bán hàng tại từng khu vực địa lý.

Bối cảnh thị trường và góc nhìn từ cơ quan quản lý​


Đợt tăng giá này thu hút sự chú ý đặc biệt bởi trong giai đoạn 2024-2025, thị trường viễn thông Việt Nam chứng kiến cuộc chạy đua khốc liệt về mặt công nghệ thay vì giá cả. Các doanh nghiệp liên tục ứng dụng công nghệ XGSPON để nâng tốc độ cáp quang lên ngưỡng 1 Gbps, đồng thời tích hợp thêm hệ sinh thái dịch vụ giá trị gia tăng như truyền hình bản quyền, nền tảng trò chơi trực tuyến và mạng xã hội nội bộ. Đỉnh điểm là vào tháng 4 năm 2025, ba ông lớn viễn thông đã đồng loạt nâng gấp đôi tốc độ băng thông tối thiểu cho toàn bộ khách hàng lên 300 Mbps mà không hề thay đổi giá cước. Lần gần nhất thị trường chứng kiến một đợt siết chặt chính sách đồng bộ là vào năm 2023, khi các nhà mạng thống nhất ngừng cung cấp các gói cước giá rẻ dưới chuẩn, áp dụng phí lắp đặt 300.000 đồng thay vì miễn phí, và thiết lập cơ chế từ chối cung cấp dịch vụ mới cho các khách hàng có lịch sử nợ đọng cước.

1772762447919.png

Dưới góc độ quản lý nhà nước, cơ quan chức năng nhận định động thái điều chỉnh giá của các doanh nghiệp là hoàn toàn phù hợp với quy luật kinh tế thị trường và không có dấu hiệu vi phạm các quy định về cạnh tranh, do đó không cần thiết phải can thiệp hành chính. Cơ quan quản lý từng phân tích rằng mặt bằng giá cước viễn thông tại Việt Nam đã chạm ngưỡng giới hạn dưới. Việc duy trì một mức giá quá thấp, thậm chí phi lý, trong thời gian dài sẽ làm suy giảm nghiêm trọng biên độ lợi nhuận của các doanh nghiệp, trực tiếp đe dọa đến khả năng tái đầu tư vào hạ tầng mạng lưới thế hệ mới. Pháp luật hiện hành cho phép các doanh nghiệp viễn thông tự chủ quyết định biểu giá dựa trên định hướng kinh doanh chiến lược, miễn là tuân thủ đầy đủ các thủ tục đăng ký và niêm yết công khai.

Vị thế hạ tầng và chi phí viễn thông trên trường quốc tế​


Trên bản đồ viễn thông toàn cầu, Việt Nam tiếp tục củng cố vị thế là một trong những quốc gia cung cấp dịch vụ Internet với chi phí tối ưu nhất. Theo số liệu thống kê năm 2025 của Liên minh Viễn thông Quốc tế (ITU), trong nhóm các quốc gia cung cấp kết nối băng rộng không giới hạn dung lượng, Việt Nam lọt vào danh sách 10 quốc gia có chi phí trung bình hàng tháng thấp nhất (tương đương 6,72 USD). Điểm khác biệt cốt lõi là ở những quốc gia có mức giá rẻ hơn, người dùng thường phải chấp nhận kết nối cáp đồng ADSL với tốc độ chậm chạp; trong khi tại Việt Nam, chuẩn kết nối tối thiểu đã là cáp quang (FTTH) với tốc độ vượt ngưỡng 100 Mbps.

1772762484194.png

Thành tựu về chất lượng hạ tầng được phản ánh rõ nét qua báo cáo cuối năm 2025 của Bộ Khoa học và Công nghệ. Báo cáo ghi nhận sự mở rộng mạnh mẽ của dung lượng kết nối quốc tế lên 80 Tbps nhờ việc đưa vào khai thác các tuyến cáp quang biển mới như ADC, SJC2 và đặc biệt là tuyến cáp đất liền VSTN do Việt Nam làm chủ hoàn toàn về công nghệ. Sự đầu tư bài bản này đã đưa tỷ lệ hộ gia đình sử dụng cáp quang đạt mức 87,6%. Hệ quả tất yếu là theo bảng xếp hạng của tổ chức đo lường Ookla Speedtest công bố vào tháng 1 năm 2026, tốc độ Internet cố định trung bình tại Việt Nam đã đạt 284,99 Mbps, chính thức vươn lên vị trí thứ 10 trên toàn thế giới.
 
  • 1772762441094.png
    1772762441094.png
    247.6 KB · Lượt xem: 23


Đăng nhập một lần thảo luận tẹt ga
Thành viên mới đăng
http://textlink.linktop.vn/?adslk=aHR0cHM6Ly93d3cudm5yZXZpZXcudm4vdGhyZWFkcy9jYWMtbmhhLW1hbmctbG9uLWRvbmctbG9hdC10YW5nLWdpYS1jdW9jLWludGVybmV0LWNhcC1xdWFuZy10b2ktdGhpZXUtbGVuLWdhbi0yMDAtMDAwLWRvbmcuODAwNzAv
Top